Lịch thiên văn, tiếng Anh là ephemeris, là bảng ghi vị trí của Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh cho từng ngày, thường tính vào một giờ cố định theo giờ quốc tế. Bản dùng cho chiêm tinh ghi vị trí theo cung, độ và phút trên hoàng đạo, kèm các ký hiệu đánh dấu ngày hành tinh dừng để đi lùi hoặc đi thuận trở lại.
Mọi phần mềm lập bản đồ sao ngày nay đều làm việc với dữ liệu kiểu này, chỉ là giấu nó sau giao diện. Biết đọc một trang lịch thiên văn, bạn tự kiểm được các con số trên mạng: sao Thuỷ có đang nghịch hành không, trăng tròn rơi vào cung nào, sao Thổ đã quay lại vị trí lúc bạn sinh chưa. Bài này đi từng cột, từng ký hiệu, kèm một ví dụ giả định để tự tính.
Lịch thiên văn là gì và ai tính ra nó
Từ thời cổ đại, các nhà thiên văn đã lập bảng vị trí thiên thể để làm lịch, dự đoán thực, phục vụ hàng hải và cả chiêm tinh. Trước kia bảng được tính tay từ các mô hình quỹ đạo, in thành sách theo từng năm hay từng thế kỷ. Người lập lá số xưa phải lật sách ấy, tra đúng ngày sinh, rồi tự cộng trừ để ra vị trí vào giờ sinh.
Ngày nay, vị trí các thiên thể được tính từ các mô hình số của Hệ Mặt Trời do các đài thiên văn và cơ quan nghiên cứu xây dựng, với độ chính xác cao hơn nhiều so với nhu cầu của chiêm tinh. Lịch thiên văn dùng cho chiêm tinh là một bản trích từ dữ liệu ấy, đổi sang hệ toạ độ hoàng đạo và chia theo mười hai cung.
Cần phân biệt: thiên văn chuyên nghiệp thường ghi vị trí theo xích kinh và xích vĩ, toạ độ gắn với xích đạo trời. Lịch chiêm tinh ghi theo kinh độ hoàng đạo, toạ độ gắn với đường đi của Mặt Trời, và gần như luôn theo hệ nhiệt đới. Cùng một vị trí, hai hệ toạ độ cho hai con số khác nhau, nên đừng so trực tiếp hai loại bảng.
Các cột trên một trang lịch thiên văn
Mỗi trang thường là một tháng, mỗi dòng một ngày. Thứ tự cột có thể khác giữa các bản, nhưng nội dung gần như giống nhau.
| Cột | Ghi gì | Ghi chú khi đọc |
|---|---|---|
| Ngày | ngày trong tháng, có khi kèm thứ | vị trí tính tại một giờ cố định, thường là 0 giờ hoặc 12 giờ giờ quốc tế |
| Giờ sao | giờ sao tại Greenwich vào giờ tính bảng | dùng để tính cung mọc và các nhà; mỗi ngày tăng khoảng 4 phút |
| Mặt Trời | cung, độ, phút | đi khoảng 1 độ mỗi ngày |
| Mặt Trăng | cung, độ, phút; có bản ghi hai lần mỗi ngày | đi khoảng 12 đến 15 độ mỗi ngày, cần nội suy theo giờ |
| Sao Thuỷ tới sao Thổ | cung, độ, phút | có chữ R hoặc D ở ngày dừng |
| Thiên Vương, Hải Vương, Diêm Vương | cung, độ, phút | đổi rất chậm, có khi cả tuần chỉ vài phút |
| Điểm nút Mặt Trăng | cung, độ, phút | có bản ghi nút trung bình, có bản ghi nút thật; hai giá trị lệch nhau tới hơn một độ |
Ngoài bảng chính, nhiều trang còn có phần ghi chú cuối tháng: giờ chính xác các lần trăng non, trăng tròn, giờ hành tinh chuyển cung, giờ các điểm dừng, ngày thực nếu có. Phần ghi chú này thường hữu ích cho người mới hơn cả bảng số.
Đọc một ô số và quy về vòng 360 độ
Một ô số trong lịch thiên văn có dạng "độ – ký hiệu cung – phút". Ví dụ, một ô đọc là 14 độ Kim Ngưu 23 phút nghĩa là hành tinh đứng ở 14 độ 23 phút tính từ đầu cung Kim Ngưu. Mỗi cung có 30 độ, mỗi độ có 60 phút.
Muốn so khoảng cách giữa hai hành tinh, ví dụ để xem chúng có tạo góc chiếu không, hãy đổi về vòng 360 độ. Bạch Dương bắt đầu ở 0 độ, Kim Ngưu ở 30, Song Tử ở 60, Cự Giải 90, Sư Tử 120, Xử Nữ 150, Thiên Bình 180, Bọ Cạp 210, Nhân Mã 240, Ma Kết 270, Bảo Bình 300, Song Ngư 330. Như vậy 14 độ 23 phút Kim Ngưu là khoảng 44,4 độ trên vòng.
Lấy hiệu hai vị trí, nếu ra gần 90 độ thì hai hành tinh tạo góc vuông, gần 120 độ là tam hợp, gần 180 độ là xung. "Gần" bao nhiêu thì được tính là có góc chiếu là quy ước riêng của từng trường phái, gọi là độ lệch cho phép, thường vài độ. Phép tính này đơn giản nhưng giúp bạn hiểu các bảng góc chiếu mà phần mềm in ra.
Nhận ra kỳ nghịch hành: chữ R, chữ D và con số đi lùi
Hầu hết lịch thiên văn đặt chữ R cạnh vị trí của hành tinh vào ngày nó dừng để bắt đầu đi lùi, và chữ D vào ngày nó dừng để đi thuận trở lại. Giữa hai mốc ấy, nếu bạn đọc dọc cột của hành tinh, sẽ thấy số độ giảm dần qua từng ngày thay vì tăng.
Đây là cách tự kiểm đơn giản nhất. Bất cứ khi nào nghe nói một hành tinh đang nghịch hành, chỉ cần xem cột của nó trong vài ngày liên tiếp: số độ giảm là đang đi lùi, tăng là đang đi thuận. Gần điểm dừng, con số gần như đứng yên, có khi hai ba ngày chỉ đổi một hai phút.
Với Mặt Trời và Mặt Trăng thì không bao giờ có chữ R, vì nhìn từ Trái Đất hai thiên thể này luôn đi thuận trên hoàng đạo. Điểm nút Mặt Trăng thì ngược lại: nút trung bình luôn đi lùi đều đặn, nên nhiều bản ghi luôn kèm chữ R hoặc không ghi gì, tuỳ quy ước.
Mùa nghịch hành của các hành tinh ngoài
Các hành tinh ở xa nghịch hành gần như mỗi năm, và mỗi lần kéo dài rất lâu. Giá trị làm tròn.
| Hành tinh | Bao lâu có một kỳ | Mỗi kỳ đi lùi khoảng | Tỉ lệ thời gian đi lùi |
|---|---|---|---|
| Sao Mộc | khoảng 13 tháng | khoảng 4 tháng | gần một phần ba |
| Sao Thổ | khoảng 12,5 tháng | khoảng 4,5 tháng | hơn một phần ba |
| Thiên Vương | hơn 12 tháng một chút | khoảng 5 tháng | khoảng bốn phần mười |
| Hải Vương | khoảng 12 tháng | khoảng 5 tháng | khoảng bốn phần mười |
| Diêm Vương | khoảng 12 tháng | khoảng 5 tới 6 tháng | khoảng bốn phần mười |
Cộng lại, gần như lúc nào trong năm cũng có ít nhất một hành tinh ngoài đang nghịch hành, nhiều tháng có ba bốn hành tinh cùng lúc. Đó là lý do hiếm ai làm ảnh chế về sao Mộc hay Hải Vương nghịch hành: một hiện tượng xảy ra gần như thường trực thì khó thành chuyện đùa, và cũng khó được coi là "điềm".
Càng xa Mặt Trời, hành tinh càng chậm, nên chu kỳ nghịch hành càng gần đúng một năm: về cơ bản là nhịp Trái Đất đi một vòng quanh Mặt Trời và vượt qua chúng.
Ví dụ giả định: tìm vị trí Mặt Trăng vào giờ Việt Nam
Số liệu dưới đây là ví dụ giả định để luyện cách tính, không lấy từ ngày thật nào. Giả sử lịch thiên văn tính lúc 0 giờ giờ quốc tế, và bạn cần vị trí Mặt Trăng lúc 19 giờ tối theo giờ Việt Nam trong một ngày.
- Đổi giờ: Việt Nam sớm hơn giờ quốc tế 7 tiếng, nên 19 giờ giờ Việt Nam là 12 giờ trưa giờ quốc tế cùng ngày.
- Đọc hai dòng liên tiếp: lúc 0 giờ ngày đó Mặt Trăng ở 10 độ 20 phút Song Tử, lúc 0 giờ ngày hôm sau ở 23 độ 40 phút Song Tử.
- Tính quãng đi trong 24 giờ: 23 độ 40 phút trừ 10 độ 20 phút là 13 độ 20 phút.
- 12 giờ là nửa ngày, nên Mặt Trăng đã đi được khoảng một nửa quãng ấy, chừng 6 độ 40 phút.
- Cộng lại: 10 độ 20 phút cộng 6 độ 40 phút là 17 độ Song Tử. Đó là vị trí gần đúng lúc 19 giờ giờ Việt Nam.
- Kiểm tra: nếu kết quả vượt quá 30 độ, tức Mặt Trăng đã sang cung kế tiếp trong ngày, hãy trừ 30 và đổi tên cung.
Cách nội suy thẳng này đủ dùng cho Mặt Trời và các hành tinh, vì chúng đi chậm. Với Mặt Trăng, tốc độ thay đổi trong ngày nên kết quả lệch vài phút cung, vẫn chấp nhận được cho việc tìm cung. Riêng cung mọc và các nhà cần thêm giờ sao, kinh độ, vĩ độ nơi sinh, nên phần đó thường để phần mềm lập bản đồ sao làm. Nếu không muốn tự tính, có thể lập lá số miễn phí trên AI Huyền Học rồi đối chiếu với cách đọc ở trên.
Những lỗi hay gặp khi tự tra
Lỗi phổ biến nhất là quên đổi giờ. Lịch in theo giờ quốc tế; người sinh ở Việt Nam lúc 6 giờ sáng thực ra sinh lúc 23 giờ ngày hôm trước theo giờ quốc tế. Với Mặt Trăng, nhầm một ngày là lệch cả chục độ, có khi sai cả cung.
Lỗi thứ hai là dùng nhầm múi giờ lịch sử. Việt Nam từng dùng những múi giờ khác nhau ở các giai đoạn và các miền trong thế kỷ 20, nên với người sinh trước năm 1975, giờ ghi trên giấy khai sinh có thể không phải UTC+7. Người tra cần kiểm múi giờ áp dụng tại nơi và thời điểm sinh.
Lỗi thứ ba là đọc nhầm hệ: dùng bảng hệ sao của chiêm tinh Ấn Độ rồi so với bài viết theo hệ nhiệt đới. Hai hệ lệch nhau gần một cung, nên kết quả nghe như "sai cung" mà thật ra là khác quy ước.
Một lỗi nhỏ hơn nhưng hay gặp: nhầm bảng tính lúc 0 giờ với bảng tính lúc 12 giờ trưa giờ quốc tế. Hai loại đều phổ biến, nên trước khi tính hãy đọc dòng chú thích ở đầu trang.
Cuối cùng, ngày giờ và nơi sinh là dữ liệu cá nhân. Khi nhờ người khác tra hoặc nhập vào phần mềm, hãy chỉ chia sẻ ở nơi bạn tin cậy.
Câu hỏi thường gặp
Lịch thiên văn khác lịch âm dương thế nào?
Lịch âm dương cho biết ngày tháng theo Mặt Trăng và Mặt Trời để tổ chức đời sống, lễ tết. Lịch thiên văn kiểu ephemeris là bảng số ghi vị trí từng thiên thể mỗi ngày, dùng để tính toán, không dùng để xem ngày.
Chữ R trong lịch thiên văn nghĩa là gì?
Chữ R đánh dấu ngày hành tinh dừng và bắt đầu đi lùi trên hoàng đạo khi nhìn từ Trái Đất. Chữ D đánh dấu ngày nó dừng và đi thuận trở lại. Giữa hai mốc, số độ của hành tinh giảm dần.
Giờ sao trong lịch thiên văn để làm gì?
Giờ sao đo theo chuyển động của bầu trời sao chứ không theo Mặt Trời, mỗi ngày nhanh hơn giờ thường khoảng 4 phút. Nó dùng để tính phần nào của hoàng đạo đang mọc ở chân trời phía đông, tức cung mọc, và các nhà.
Vì sao vị trí trên lịch thiên văn khác con số trong phần mềm thiên văn?
Thường vì hai bên dùng hai hệ toạ độ: lịch chiêm tinh ghi kinh độ hoàng đạo theo cung, phần mềm thiên văn hay ghi xích kinh và xích vĩ. Cũng có khi một bên dùng hệ nhiệt đới, bên kia dùng hệ sao.
Người sinh trước năm 1975 cần lưu ý gì khi tra?
Cần kiểm múi giờ đang áp dụng ở nơi sinh vào thời điểm ấy, vì Việt Nam từng dùng các múi giờ khác nhau theo giai đoạn và theo miền. Dùng nhầm múi giờ có thể làm lệch cung Mặt Trăng và cung mọc.
Có cần mua lịch thiên văn in không?
Không bắt buộc. Phần mềm lập bản đồ sao và nhiều nguồn tra cứu đã tính sẵn. Biết đọc bảng giúp bạn hiểu và kiểm lại kết quả. Nếu thích tra tay, một bản in theo thế kỷ dùng được rất lâu.