TuViPhuongTay.comTử Vi Phương Tây
Chiêm tinh trong văn hoá đại chúng

Chiêm tinh trong văn học và âm nhạc kinh điển: từ Dante, Shakespeare đến Holst

Thần khúc của Dante, đôi tình nhân lỡ sao của Shakespeare, bộ Các hành tinh của Holst: chiêm tinh từng là kiến thức nền của nghệ thuật châu Âu. Đọc lại cho đúng.

Silhouette of a Vietnamese musician playing a grand piano in a dim concert hall in Hanoi, warm stage light, empty velvet seats, shot from the back of the hall

Trong nhiều thế kỷ, chiêm tinh là một phần kiến thức nền của người có học ở châu Âu, nên nó thấm vào văn chương, hội hoạ, âm nhạc như một kho ẩn dụ chung. Dante dựng thiên đường theo các tầng trời hành tinh; Shakespeare gọi Romeo và Juliet là đôi tình nhân lỡ sao, đồng thời để nhân vật khác chế giễu thói đổ lỗi cho tinh tú; đầu thế kỷ 20, Gustav Holst viết bộ tổ khúc Các hành tinh từ cảm hứng chiêm tinh. Hiểu lớp nghĩa này giúp người đọc, người nghe hôm nay thưởng thức tác phẩm cũ sâu hơn.

Bài đi qua một số tác phẩm tiêu biểu mà sự có mặt của chiêm tinh đã được giới nghiên cứu văn học, âm nhạc nhắc tới rộng rãi. Mục đích là văn hoá học: nhận ra ẩn dụ, hiểu bối cảnh, không bàn chuyện chiêm tinh đúng hay sai.

Kho ẩn dụ chung của người viết châu Âu xưa

Ở châu Âu thời trung đại và Phục hưng, thiên văn và chiêm tinh chưa tách hẳn thành hai lĩnh vực. Người học đại học được dạy về chuyển động của các thiên thể, về bảy "hành tinh" theo quan niệm thời đó gồm cả Mặt Trời và Mặt Trăng, về mười hai cung. Thầy thuốc xem vị trí Mặt Trăng; nông dân theo lịch có hình các cung; vua chúa có người tính lá số.

Trong bối cảnh ấy, khi một nhà thơ nhắc tới sao Hoả, độc giả hiểu ngay ý về chiến tranh và cơn giận; nhắc tới sao Thổ là nói về tuổi già, sự u uất, thời gian. Ẩn dụ chiêm tinh hoạt động như điển cố trong văn chương cổ của Việt Nam: người viết không cần giải thích, người đọc cùng thời tự hiểu.

Với độc giả hôm nay, lớp ẩn dụ này dễ bị bỏ qua. Ta đọc một câu thơ nhắc tới hành tinh và nghĩ đó chỉ là cảnh trời đêm, trong khi người viết đang nói về tính khí, về số phận, về bệnh tật theo quan niệm thời đó. Biết qua về hệ biểu tượng chiêm tinh là có thêm một chiếc chìa khoá để mở những lớp nghĩa ấy.

Điều này không có nghĩa mọi tác giả đều tin chiêm tinh. Nhiều người dùng nó như ngôn ngữ chung của thời đại, có người còn đem nó ra châm biếm. Chính sự đa dạng ấy làm cho chủ đề thú vị.

Dante và Chaucer: những tầng trời và chiếc thước sao

Trong Thần khúc, viết đầu thế kỷ 14, Dante Alighieri dựng phần Thiên đường theo mô hình vũ trụ của thời mình: các tầng trời lần lượt ứng với Mặt Trăng, sao Thuỷ, sao Kim, Mặt Trời, sao Hoả, sao Mộc, sao Thổ, rồi tới tầng các ngôi sao cố định và những tầng xa hơn. Mỗi tầng trời gắn với một nhóm linh hồn có phẩm chất tương ứng với biểu tượng của thiên thể đó. Ở đây, vũ trụ học, chiêm tinh và thần học hoà vào một cấu trúc văn chương chặt chẽ.

Người đọc hôm nay không cần chấp nhận mô hình ấy để thấy cái đẹp của nó. Cách Dante sắp xếp cả một vũ trụ theo trật tự để chở một hành trình tinh thần là một trong những ví dụ lớn nhất về việc dùng hệ biểu tượng bầu trời làm khung tác phẩm.

Ở nước Anh cuối thế kỷ 14, Geoffrey Chaucer, tác giả Những câu chuyện Canterbury, rải rác nhiều chi tiết chiêm tinh trong các câu chuyện: vị trí hành tinh lúc một nhân vật ra đời, cung mà Mặt Trời đang ở để chỉ thời điểm trong năm. Chaucer còn viết một chuyên luận về cách dùng đồng hồ thiên văn astrolabe, theo lời mở đầu là để dạy cho con trai nhỏ. Điều đó cho thấy với ông, bầu trời là kiến thức thực hành chứ không chỉ là ẩn dụ.

Đọc Chaucer, độc giả hiện đại thường thấy những câu tả ngày tháng bằng vị trí Mặt Trời trong cung là khó hiểu. Thực ra đó là cách ghi thời gian rất tự nhiên của người có học thời ấy, giống như người Việt xưa ghi ngày bằng can chi.

Shakespeare: đôi tình nhân lỡ sao và người chế giễu tinh tú

Lời mở màn vở Romeo và Juliet gọi hai nhân vật chính là "a pair of star-crossed lovers", thường được dịch ý là đôi tình nhân bị sao trời ngăn trở hay lỡ sao. Cụm từ này về sau đi vào tiếng Anh thông dụng để chỉ những mối tình không thành vì hoàn cảnh. Nó cho thấy khán giả thời Shakespeare quen với ý niệm sao trời liên quan đến số phận.

Nhưng cũng chính Shakespeare để những nhân vật khác nói điều ngược lại. Trong Julius Caesar, Cassius bảo Brutus rằng lỗi không nằm ở các vì sao mà ở chính hai người, nếu họ cam chịu làm kẻ dưới. Trong Vua Lear, nhân vật Edmund có một đoạn độc thoại chế giễu thói quen đổ cho Mặt Trời, Mặt Trăng và các ngôi sao mọi tai hoạ do chính con người gây ra, như thể người ta thành kẻ xấu vì bị trời bắt buộc.

Hai giọng nói ấy cùng tồn tại trong một tác giả là điều đáng suy ngẫm. Shakespeare không viết luận văn về chiêm tinh; ông để các nhân vật mang những quan niệm khác nhau của thời đại, và để khán giả tự cân nhắc. Lời Cassius thường được trích dẫn đến tận hôm nay như một lời nhắc về trách nhiệm cá nhân.

Với người đọc Việt, những câu này có thể so với lối nói "chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" trong Truyện Kiều, nơi Nguyễn Du đặt vấn đề mệnh trời bên cạnh lựa chọn của con người. Văn chương lớn ở nhiều nền văn hoá đều không trả lời dứt khoát chuyện số phận, mà giữ nó như một câu hỏi.

Lịch tranh, cửa nhà thờ và người hoàng đạo

Không chỉ trong sách, mười hai cung còn có mặt dày đặc trong nghệ thuật thị giác châu Âu trung đại. Nhiều cuốn sách lịch chép tay vẽ mỗi tháng một trang, phía trên là cung hoàng đạo của tháng, phía dưới là công việc đồng áng tương ứng: cày bừa, gieo hạt, gặt hái, ép nho, mổ lợn. Cuốn sách giờ kinh nổi tiếng làm cho Công tước xứ Berry đầu thế kỷ 15 là ví dụ được in lại nhiều nhất, với những trang lịch có vòng cung hoàng đạo phía trên các cảnh sinh hoạt.

Cùng cuốn sách đó có một trang vẽ "người hoàng đạo": hình người với từng bộ phận cơ thể gắn với một cung, từ Bạch Dương ở đầu tới Song Ngư ở bàn chân. Hình này phản ánh y học trung đại, khi thầy thuốc tin rằng nên tránh can thiệp vào bộ phận ứng với cung mà Mặt Trăng đang đi qua. Ngày nay nó là tư liệu lịch sử y học, không phải lời khuyên chữa bệnh.

Trên mặt tiền và cửa nhiều nhà thờ kiểu Roman và Gothic, các nhà điêu khắc cũng tạc chuỗi mười hai cung đi kèm mười hai công việc của tháng. Đặt trong không gian tôn giáo, các hình ấy chủ yếu nói về thời gian, mùa màng, vòng năm của lao động, không mang ý nghĩa bói toán.

Những hình ảnh này nhắc ta rằng với người trung đại, cung hoàng đạo gần với lịch hơn là với tính cách. Mười hai cung là mười hai chặng của một năm nông nghiệp, một cách gắn bầu trời với ruộng đồng mà người nông dân Việt Nam theo lịch tiết khí cũng sẽ thấy quen.

Holst và bộ tổ khúc Các hành tinh

Gustav Holst, nhà soạn nhạc người Anh, viết bộ tổ khúc dàn nhạc Các hành tinh trong khoảng 1914–1916. Ông có quan tâm tới chiêm tinh và lấy nghĩa biểu tượng của từng hành tinh làm cảm hứng cho mỗi chương, chứ không mô tả thiên văn. Bảy chương mang tên bảy hành tinh như sau.

ChươngTên phụ đề thường gặpNghĩa biểu tượng được gợi
Sao HoảNgười mang chiến tranhSức mạnh, xung đột, nhịp hành quân dồn dập
Sao KimNgười mang hoà bìnhSự êm dịu, tĩnh lặng sau xung đột
Sao ThuỷSứ giả có cánhSự nhanh nhẹn, linh hoạt
Sao MộcNgười mang niềm vuiSự rộng lượng, lễ hội
Sao ThổNgười mang tuổi giàThời gian trôi, sự chín chắn
Thiên VươngNhà ảo thuậtBất ngờ, đảo lộn
Hải VươngNhà thần bíMơ hồ, xa xăm, kết bằng dàn hợp xướng nữ nhỏ dần

Bộ tổ khúc không có Trái Đất, vì nó đi theo góc nhìn chiêm tinh từ Trái Đất nhìn ra. Diêm Vương cũng vắng mặt, vì đến năm 1930 thiên thể này mới được phát hiện. Năm 2000, nhà soạn nhạc Colin Matthews viết thêm một chương về Diêm Vương để có thể biểu diễn nối sau bộ gốc, ít lâu trước khi Diêm Vương được xếp lại thành hành tinh lùn năm 2006.

Chương Sao Hoả về sau ảnh hưởng rõ tới nhạc phim chiến tranh và khoa học viễn tưởng, nên nhiều người nghe thấy quen dù chưa từng biết tên Holst. Đó là một con đường mà biểu tượng chiêm tinh đi vào văn hoá đại chúng mà người nghe không hề hay biết.

Đọc tác phẩm cũ có yếu tố chiêm tinh cho đúng

Biết là đủ, không cần tin. Hiểu sao Thổ gợi tuổi già hay Bạch Dương mở đầu mùa xuân giúp bạn đọc đúng ý tác giả. Điều đó không đòi bạn chấp nhận chiêm tinh như một hệ giải thích thế giới.

Đặt trong bối cảnh thời đại. Một chi tiết chiêm tinh trong sách thế kỷ 14 nói về hiểu biết của thế kỷ 14. Đừng đọc nó như lời khẳng định của tác giả gửi tới người hôm nay.

Chú ý giọng của nhân vật. Như ở Shakespeare, quan niệm về sao trời có thể là của nhân vật chứ không phải của tác giả. Nhiều tác phẩm cố ý đặt các giọng đối lập cạnh nhau.

Đọc bản dịch có chú thích. Nhiều ẩn dụ chiêm tinh mất nghĩa khi dịch. Bản dịch có chú thích kỹ giúp bạn không bỏ lỡ những lớp nghĩa này.

Nghe nhạc với tâm thế mở. Với bộ Các hành tinh, bạn có thể nghe như nhạc thuần tuý, hoặc nghe kèm biết phụ đề từng chương để thấy nhà soạn nhạc dịch một biểu tượng thành âm thanh ra sao.

Câu hỏi thường gặp

Shakespeare có tin chiêm tinh không?

Không có căn cứ chắc chắn để kết luận. Tác phẩm của ông có nhân vật nói về số phận do sao trời, có nhân vật chế giễu điều đó. Cách hiểu phổ biến là ông dùng các quan niệm của thời đại để xây dựng nhân vật, không đứng hẳn về phía nào.

Vì sao bộ Các hành tinh của Holst không có Trái Đất?

Vì bộ tổ khúc lấy cảm hứng từ nghĩa biểu tượng của các hành tinh trong chiêm tinh, vốn nhìn từ Trái Đất ra. Diêm Vương cũng không có vì thời điểm sáng tác nó chưa được phát hiện.

Cụm từ star-crossed lovers nghĩa là gì?

Cụm từ trong lời mở màn Romeo và Juliet, nghĩa là đôi tình nhân bị sao trời ngăn trở, ý nói mối tình định sẵn không thành. Nay nó được dùng trong tiếng Anh để chỉ những đôi yêu nhau mà hoàn cảnh không cho ở bên nhau.

Hình người hoàng đạo trong sách trung đại có ý nghĩa gì?

Đó là hình minh hoạ y học thời trung đại, gắn mỗi bộ phận cơ thể với một cung, dùng để chọn thời điểm chữa trị theo quan niệm thời đó. Ngày nay nó là tư liệu lịch sử, không có giá trị y khoa.

Đọc Thần khúc có cần biết về chiêm tinh không?

Không bắt buộc, nhưng biết qua về mô hình các tầng trời hành tinh thời trung đại giúp hiểu cấu trúc phần Thiên đường và vì sao mỗi tầng gắn với một nhóm nhân vật. Bản dịch có chú thích thường giải thích điều này.

Có tác phẩm văn học Việt Nam nào nói về cung hoàng đạo không?

Văn học cổ Việt Nam dùng hệ thiên văn phương Đông như can chi, nhị thập bát tú hơn là mười hai cung phương Tây. Cung hoàng đạo phương Tây xuất hiện nhiều hơn trong văn hoá đại chúng hiện đại như báo, tạp chí, truyện dịch.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183