Sao Hoả nghịch hành khoảng 60 đến 80 ngày, cứ khoảng 26 tháng một lần, và giữa kỳ đi lùi là lúc nó sáng nhất, đỏ rõ nhất, thấy được suốt đêm. Khác với sao Thuỷ và sao Kim, lần này không phải hành tinh vượt Trái Đất mà là Trái Đất vượt sao Hoả ở làn trong. Trên nền sao, sao Hoả vẽ một vòng lặp hoặc một đường hình chữ Z rồi mới đi tiếp.
Chính những vòng lặp ấy đã làm các nhà thiên văn cổ đau đầu suốt hai nghìn năm, và dữ liệu đo sao Hoả đã giúp Kepler tìm ra quỹ đạo elip đầu thế kỷ 17. Bài này đi từ cơ chế, qua hình dạng đường đi, tới cách chiêm tinh phương Tây đọc kỳ sao Hoả đi lùi, và lý do không nên coi nó là thời kỳ đáng sợ.
Trái Đất vượt sao Hoả: cơ chế đảo vai
Sao Hoả đi hết một vòng quanh Mặt Trời trong khoảng 687 ngày, tức gần 1,9 năm. Trái Đất ở phía trong, đi nhanh hơn, nên cứ một quãng lại đuổi kịp và vượt sao Hoả. Quãng lặp lại ấy, chu kỳ giao hội, dài khoảng 780 ngày, tức hơn hai năm một chút, thường được nói tròn là 26 tháng.
Lúc Trái Đất vượt qua, sao Hoả nằm ở phía đối diện Mặt Trời khi nhìn từ Trái Đất. Thiên văn gọi thời điểm này là xung đối. Hướng nhìn của ta tới sao Hoả, vốn vẫn quét theo chiều thuận trên nền sao, lúc này quay ngược lại một quãng, giống như khi xe bạn vượt một xe chậm hơn ở làn bên cạnh: so với rặng núi xa, xe kia như trôi lùi về phía sau.
Vì xung đối là lúc Trái Đất và sao Hoả ở cùng một phía của Mặt Trời và gần nhau nhất trong chu kỳ, sao Hoả cũng sáng nhất quanh thời điểm này. Nó mọc lúc Mặt Trời lặn, lên cao nhất lúc nửa đêm, lặn lúc bình minh. Nếu bạn từng thấy một chấm đỏ cam rất sáng, không nhấp nháy như sao, nằm cao trên bầu trời đêm, rất có thể đó là sao Hoả quanh một kỳ nghịch hành.
Khoảng cách ở các lần xung đối thay đổi đáng kể vì quỹ đạo sao Hoả khá dẹt: từ khoảng 56 triệu tới khoảng 100 triệu ki lô mét. Lần xung đối gần nhất được nhắc nhiều là cuối tháng 8 năm 2003, khi sao Hoả đến gần Trái Đất hơn bất cứ lúc nào trong hàng chục nghìn năm.
Vòng lặp hay chữ Z: vì sao đường đi mỗi lần một khác
Nếu đánh dấu vị trí sao Hoả trên nền sao mỗi tuần trong vài tháng quanh xung đối, bạn sẽ được một hình rất lạ. Có lần nó vẽ một vòng tròn khép kín như sợi chỉ thắt nút; có lần nó vẽ hình chữ Z hay chữ S dẹt, đi tới, lùi lại, rồi lại đi tới mà không khép vòng.
Lý do nằm ở chỗ quỹ đạo sao Hoả hơi nghiêng so với quỹ đạo Trái Đất, chừng gần hai độ. Khi xung đối rơi vào lúc sao Hoả nằm khá xa phía trên hoặc phía dưới mặt phẳng quỹ đạo Trái Đất, chuyển động lùi cộng với độ lệch lên xuống tạo thành vòng khép. Khi xung đối rơi gần chỗ hai mặt phẳng cắt nhau, phần lên xuống gần như không có, đường đi dẹt thành hình chữ Z.
Trên bản đồ sao chiêm tinh, chỉ có kinh độ hoàng đạo được dùng để xác định cung và độ, nên các vòng lặp đẹp mắt ấy bị "ép" thành một đoạn đi tới, đi lùi trên một đường thẳng. Chiêm tinh quan tâm sao Hoả đứng ở độ nào, không quan tâm nó cao hay thấp so với hoàng đạo. Đó là một ví dụ cho thấy chiêm tinh dùng thiên văn có chọn lọc, giữ lại những gì phục vụ hệ biểu tượng của nó.
Với người ngắm trời, theo dõi hình vòng lặp là một việc thú vị có thể làm bằng mắt thường: ghi lại vị trí sao Hoả so với vài ngôi sao sáng gần đó mỗi tuần, sau ba tháng là thấy rõ.
Kepler và quỹ đạo sao Hoả
Trong thiên văn cổ, Ptolemy giải thích nghịch hành bằng các vòng tròn nhỏ chồng lên vòng tròn lớn, gọi là ngoại luân. Copernicus năm 1543 đặt Mặt Trời vào trung tâm, và nghịch hành trở thành hệ quả tự nhiên của việc Trái Đất vượt các hành tinh khác. Nhưng cả hai vẫn dùng vòng tròn, nên vị trí tính ra của sao Hoả vẫn lệch so với quan sát.
Tycho Brahe, nhà thiên văn Đan Mạch, đã đo vị trí các hành tinh với độ chính xác cao nhất thời trước kính thiên văn, trong đó có rất nhiều số liệu về sao Hoả. Johannes Kepler kế thừa bộ số liệu ấy và chọn đúng sao Hoả làm bài toán chính, vì quỹ đạo của nó dẹt hơn hẳn quỹ đạo Trái Đất, sai số của mô hình vòng tròn lộ rõ nhất ở đây. Sau nhiều năm tính toán, Kepler đi tới kết luận quỹ đạo là hình elip với Mặt Trời ở một tiêu điểm, công bố trong sách Astronomia nova năm 1609.
Điều ít người biết là Kepler cũng làm lịch chiêm tinh hằng năm và lập lá số cho người đặt hàng, một phần vì đó là nguồn thu và cũng là việc thường thấy của nhà thiên văn thời ấy. Chính sự đi lùi kỳ lạ của sao Hoả, thứ mà chiêm tinh đọc bằng ngôn ngữ biểu tượng, lại là dữ liệu dẫn ông tới một định luật vật lý. Câu chuyện cho thấy thiên văn và chiêm tinh từng gắn rất chặt trước khi tách thành hai lĩnh vực.
Với người đọc hôm nay, bài học từ Kepler khá thực tế: một hiện tượng có thể được mô tả bằng hai thứ ngôn ngữ khác nhau. Ngôn ngữ biểu tượng giúp người ta kể chuyện về bầu trời; ngôn ngữ đo đạc giúp tính trước chính xác bầu trời sẽ ra sao. Biết mình đang dùng ngôn ngữ nào là đủ để không nhầm lẫn giữa hai bên.
Các con số của sao Hoả nghịch hành
Giá trị trung bình làm tròn; từng kỳ cụ thể khác nhau vì quỹ đạo sao Hoả khá dẹt.
| Đại lượng | Giá trị gần đúng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Chu kỳ quỹ đạo | khoảng 687 ngày | gần 1,9 năm |
| Chu kỳ giao hội | khoảng 780 ngày | thường nói tròn là 26 tháng |
| Độ dài chặng đi lùi | khoảng 60 đến 80 ngày | dài nhất trong các hành tinh cá nhân |
| Quãng đi lùi | khoảng 10 đến 20 độ | có khi trọn trong một cung, có khi vắt qua hai cung |
| Khoảng cách lúc xung đối | khoảng 56 đến 100 triệu km | gần nhất ở các lần xung đối mùa hè – thu |
| Thời gian ở một cung khi đi bình thường | khoảng sáu, bảy tuần | có kỳ nghịch hành thì có thể nằm một cung tới vài tháng |
Dòng cuối là điều người đọc chiêm tinh hay để ý: bình thường sao Hoả qua một cung trong khoảng một tháng rưỡi, nhưng năm có kỳ nghịch hành thì nó có thể nằm lại trong một cung lâu gấp nhiều lần. Những người viết mục hoàng đạo hay gọi đó là "sao Hoả lưu lâu ở cung X". Đây là hệ quả hình học, không hơn.
Chiêm tinh đọc sao Hoả đi lùi thế nào
Sao Hoả mang tên thần chiến tranh Mars của La Mã, tương ứng Ares của Hy Lạp, có lẽ vì màu đỏ của nó gợi tới máu và lửa. Màu ấy thật ra đến từ bụi sắt bị oxy hoá phủ trên bề mặt. Tên Hán Việt "Hoả tinh" cũng dựa vào màu lửa; sách thiên văn Trung Hoa cổ còn gọi nó là Huỳnh Hoặc, một cái tên nhiều người giải thích là gắn với ánh sáng chập chờn và đường đi khó đoán của nó.
Trong chiêm tinh phương Tây, sao Hoả làm chủ cung Bạch Dương, và theo hệ cổ là cả Bọ Cạp. Truyền thống gắn nó với sức hành động, sự quyết đoán, ý chí cạnh tranh, cả nóng nảy và xung đột. Kỳ nghịch hành được sách phổ thông mô tả là lúc năng lượng ấy "quay vào trong": nên xem lại kế hoạch, rèn sức bền, sửa những việc dang dở thay vì lao vào việc mới.
Lời khuyên trên mạng thường đẩy xa hơn: không khởi nghiệp, không cãi nhau, không mổ xẻ gì trong kỳ này. Cũng như với sao Thuỷ và sao Kim, những việc ấy có tiêu chí thật tốt hơn: khởi nghiệp dựa vào kế hoạch và vốn; tranh chấp cần bình tĩnh và đúng quy trình bất kể tháng nào; quyết định phẫu thuật thuộc về bác sĩ và người bệnh. Một kỳ dài hơn hai tháng rơi vào khoảng một năm rưỡi mỗi lần thì cũng không thể là quãng thời gian người ta ngừng sống bình thường.
Cách đọc ôn hoà nhất là coi lịch sao Hoả như cái cớ để rà lại sức mình: đang ôm quá nhiều việc chăng, có cuộc tranh luận nào nên khép lại bằng một cuộc nói chuyện tử tế không. Đó là câu hỏi đáng đặt ra bất kỳ lúc nào.
Vì sao mỗi lần sao Hoả đi lùi rơi vào một cung khác
Mỗi chu kỳ giao hội của sao Hoả dài khoảng 780 ngày, hơn hai năm chừng 50 ngày. Trong 50 ngày dôi ra ấy, Mặt Trời đi thêm gần 50 độ trên hoàng đạo. Vì xung đối luôn rơi đối diện vị trí Mặt Trời, mỗi kỳ nghịch hành của sao Hoả nhảy tới khoảng một cung rưỡi tới hai cung so với kỳ trước.
Sau bảy chu kỳ, tức khoảng 15 năm, hoặc tám chu kỳ, tức khoảng 17 năm, các kỳ nghịch hành quay lại gần vùng cung cũ. Đó cũng là lý do các lần xung đối "gần" lặp lại với nhịp 15 đến 17 năm: chúng phải rơi đúng vào đoạn quỹ đạo sao Hoả gần Mặt Trời nhất, mà đoạn ấy ứng với cuối mùa hè, đầu mùa thu nhìn từ Trái Đất.
Với người theo dõi chiêm tinh, phép tính này cho một nhận xét đơn giản: kỳ sao Hoả nghịch hành không thiên vị cung nào. Mỗi cung đều lần lượt có kỳ sao Hoả đi lùi đi qua, theo một nhịp đều đặn có thể tính trước hàng trăm năm. Không có cung nào "hay bị" sao Hoả đi lùi hơn cung khác.
Câu hỏi thường gặp
Sao Hoả nghịch hành bao lâu một lần?
Khoảng 26 tháng một lần, tức hơn hai năm, vì đó là khoảng thời gian Trái Đất cần để đuổi kịp và vượt sao Hoả một lần. Mỗi kỳ đi lùi kéo dài khoảng 60 đến 80 ngày, nên có những năm dương lịch không có kỳ sao Hoả nghịch hành nào.
Vì sao sao Hoả sáng nhất đúng lúc nghịch hành?
Vì giữa kỳ nghịch hành là xung đối, lúc Trái Đất nằm giữa Mặt Trời và sao Hoả. Khi đó hai hành tinh gần nhau nhất trong chu kỳ, và mặt sao Hoả hướng về ta được chiếu sáng trọn vẹn, nên nó sáng và thấy được suốt đêm.
Nhìn bằng mắt thường có thấy sao Hoả đi lùi không?
Có, nhưng phải theo dõi nhiều tuần. Mỗi đêm sao Hoả chỉ dịch một chút so với các ngôi sao nền. Nếu bạn ghi lại vị trí của nó so với vài ngôi sao sáng gần đó mỗi tuần, sau vài tháng sẽ thấy rõ đường đi tới, lùi lại rồi đi tới.
Năm 2003 sao Hoả đến gần Trái Đất nhất phải không?
Cuối tháng 8 năm 2003 sao Hoả đến gần Trái Đất khoảng 56 triệu ki lô mét, lần gần nhất trong hàng chục nghìn năm theo tính toán thiên văn. Các lần xung đối gần như vậy lặp lại với khoảng cách khác nhau, khoảng mỗi 15 đến 17 năm có một lần khá gần.
Các hành tinh xa hơn sao Hoả có nghịch hành giống vậy không?
Có, theo cùng cơ chế Trái Đất vượt hành tinh ở làn trong. Sao Mộc, sao Thổ và các hành tinh xa hơn nghịch hành gần như mỗi năm, mỗi lần bốn đến năm tháng, nhưng quãng lùi ngắn hơn và ít được nhắc tới trên mạng.
Sinh ra lúc sao Hoả nghịch hành có sao không?
Không có gì đáng lo. Sao Hoả đi lùi chừng 9 phần trăm thời gian, nên trong mỗi trăm người sinh ra có khoảng chín người như vậy. Chiêm tinh phổ thông mô tả chi tiết này bằng những từ như hướng nội, nhưng đó là quy ước biểu tượng, không nói được gì chắc về một người cụ thể.